Tìm kiếm tin tức

Liên kết website
Chính phủ
Các Bộ, Ngành ở TW
Tỉnh ủy, UBND Tỉnh
Sở, Ban, Ngành
TÀI LIỆU PHỔ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Ngày cập nhật 11/11/2022

TÀI LIỆU PHỔ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

(TÌNH HUỐNG GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT)

(Kèm theo Công văn số 2183 /STP-BTTP ngày 08/11/2022 của Sở Tư pháp)

I. TÌNH HUỐNG GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬTLIÊN QUAN ĐẾN QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN NINH, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI; PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI; PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY; CỨU NẠN, CỨU HỘ; PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

1. Gia đình ông Võ Văn M sinh sống tại xã KN huyện NH, ở nơi giáp ranh với khu đô thị QGS. Nhà ông nuôi đàn bò có 5 con. Do thói quen và để thuận tiện, ông thường thả rông đàn bò đi vào các  con đường hoặc các bãi cỏ  trong khu đô thị để ăn cỏ. Trong trường hợp này, hành vi của A có phải là hành vi vi phạm hành chính không? Nếu có thì xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 144/2021/NĐ-CP) quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một số hành vi, trong đó có hành vi tại điểm b: “Thả rông động vật nuôi trong đô thị hoặc nơi công cộng;”. Như vậy, với hành vi thả rông động vật nuôi trong đô thị, ông M sẽ bị phạt tiền cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.

2. Ông Lê Văn S. sống tại phường KX, thành phố PT, làm nghề thợ xây. Ông nghiện rượu nặng. Chiều nào cũng đem bàn, ghế, rượu... ra công viên gần nhà, uống rượu say mèm rồi chọc ghẹo, chửi bới, đe dọa nguời dân đang vui chơi ở đó. Khi lực lượng bảo vệ đến nhắc nhở thì ông càng hung hãn hơn, lợi dụng có uống rượu càng lớn tiếng chửi bới, văng tục, dùng bàn, ghế, gậy gỗ, đồ nghề xây dựng như bay, xẻng… dọa đánh bảo vệ và những người xung quanh, gây mất trật tự công cộng.Với hành vi thường xuyên gây rối ở nơi công cộng như vậy, ông S có vi phạm pháp luật không. Nếu có thì xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một số hành vi, trong đó có hành vi tại điểm a: “a) Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng;”. Như vậy, đối với hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng, ông S sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Ngoài ra, ông S còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, cụ thể ở đây là tịch thu các vật dụng: bàn, ghế, gậy gỗ, bay, xẻng… mà ông S dùng để đe dọa, gây mất trật tự công cộng.

3. Chị Nguyễn Thị M ở phường TH, thành phố HM trong khi say rượu, đã gọi điện thoại đến trực ban Cảnh sát 113, Công an tỉnh TG, báo đang bị đánh đập, hành hạ. Qua quá trình làm việc với cơ quan chức năng, chi M, thừa nhận đã gọi điện vào số trực ban 113 , khi đang say rượu. Chị này tường trình lý do gọi là để trêu đùa chứ thực tế không bị đánh đập, hành hạ như trình báo. Với hành vi này, chị M có bị xử phạt không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một số hành vi, trong đó có hành vi tại điểm c: “Báo thông tin giả, không đúng sự thật đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Như vậy, với hành vi gọi điện đến trực ban Cảnh sát 113 để báo tin giả là mình bị đánh đạp, hành hạ, chị M sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

4. Do có mâu thẫn với một nhóm thanh niên trên facebook, LVD ở tại xã PK, huyện DS đã hẹn với nhóm thanh niên này để giải quyết. D đã rủ thêm một số thanh niên mang theo mã tấu, dao tự chế để đánh nhau. Đang trên đường đi đến điểm hẹn thì cả nhóm bị Cảnh sát 113 phát hiện và bắt giữ. Hành vi của nhóm thanh niên này bị xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một số hành vi, trong đó có hành vi tại điểm b: “b) Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;”. Như vậy, D và nhóm thanh niên mang theo các loại vũ khí thô sơ (mã tấu, dao tự chế) nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác sẽ bị phạt tiền từ từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, D và nhóm thanh niên nói trên còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, d, đ và g khoản 2; điểm đ khoản 3; các điểm b, e và i khoản 4; các điểm a, b và c khoản 5; các khoản 6 và 10 Điều này;". Cụ thể là tịch thu mã tấu, dao tự chế mà D và nhóm thanh niên này mang theo để đi đánh nhau.

5. Gia đình ông Ngô Văn S và ông Lê Thái M ở cạnh nhà nhau. Gần đây, hai gia đình xảy ra mâu thuẫn do tranh chấp về ranh giới đất. Trong một lần cãi vã, ông S đã dùng ghế gỗ đánh mạnh vào người ông M, gây chảy máu và thương tích ở chân. Ông M phải đi điều trị tại bệnh viện. Pháp luật xử lý như thế nào đối với hành vi của ông S.

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một số hành vi, trong đó có hành vi tại điểm a: “a) Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;”. Như vậy, đối với hành vi của ông S dùng ghế đánh ông M gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì ông S sẽ bị phạt tiền từ từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông S còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, d, đ và g khoản 2; điểm đ khoản 3; các điểm b, e và i khoản 4; các điểm a, b và c khoản 5; các khoản 6 và 10 Điều này;". Cụ thể là tịch thu chiếc ghế mà ông S đã dùng để gây thương tích cho ông M.

Đồng thời, ông S còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm đ khoản 14 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “đ) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều này”. Như vậy, ông S phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho ông M.

6. Nhà ông Phạm Văn P ở tại tổ 5 phường KV, thành phố ST mới sắm được dàn karaoke. Từ ngày đó, gần như đêm nào ông P cũng tổ chức ăn nhậu, hát karaoke đến tận khuya, nhiều khi hát đến 1 giờ sáng hôm sau, gây ồn ào, mất trật tự chung. Khi hàng xóm sang nhắc nhở, ông còn lớn tiếng thách thức, chửi bới. Sự việc được báo lên chính quyền địa phương. Ông P sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những  hành vi vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung, trong đó có hành vi tại điểm a: “a) Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau;”. Như vậy, với hành vi hát karaoke đến tận 1 giờ sáng của ngày hôm sau, Ông P sẽ phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

7. Bà Lê Thị N cư trú tại phường K, thành phố HQ. Sau đó, bà mua nhà và chuyển nơi cư trú sang phường TS đến nay đã gần 20 năm. Mặc dù đã cư trú và đủ điều kiện đăng ký cư trú ở phường TS, nhưng bà N vẫn không làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký cư trú từ phường K sang phường TS. Việc bà N không làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký cư trú  có vi phạm pháp luật không? Nếu có vi phạm thì xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú, trong đó có hành vi tại điểm d: “d) Đã cư trú tại chỗ ở hợp pháp mới, đủ điều kiện đăng ký cư trú nhưng không làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký cư trú theo quy định của pháp luật;”. Như vậy, với hành vi không làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký cư trú, bà N sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

8. Bà Vũ Linh K có một ngôi nhà ở khá rộng và đẹp. Nơi bà ở là phương TL, TH HK gần với địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh. Nhà rộng lại ít người nên bà có dành 02 phòng ở tầng 2 cho khách du lịch thuê để kiếm thêm thu nhập. Mỗi lần cho thuê từ 1 đến 2 khách. Vì cho là nhà gia đình đang ở, chỉ cho thuê mỗi lần từ 4 đến 6 khách du lịch đến lưu trú nên bà K không  thực hiện thông báo việc lưu trú với cơ quan chức năng. Việc làm này của bà K có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú, trong đó có hành vi tại điểm b: “b) Kinh doanh lưu trú, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở khác có chức năng lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 04 đến 08 người lưu trú”. Như vậy, với hành vi kinh doanh lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú, bà K sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

9. Nguyễn Văn A ở tại xã NH huyên NC là người lười biếng, đua đòi lại ham đánh bạc nên nợ nần chồng chất. Túng quá hóa liều, A đã đem thẻ Căn cước công dân của mình đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài với số tiền là 300.000 đồng, với lãi xuất 0,2%/ngày. Ông Phạm Văn X là người nhận cầm cố cũng là người ở cùng xã với A. Hành vi của A và ông X bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân, trong đó có hành vi tại điểm c: “c) Thế chấp, cầm cố, nhận cầm cố Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân”. Với hành vi cầm cố và nhận cầm cố thẻ Căn cước công dân, A và ông X sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Ngoài ra, A và ông X còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là: “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm b và c khoản 2, điểm a khoản 3 và các điểm a, b, c và d khoản 4 Điều này”.

Ông X còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 6 Điều 10 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là: “b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 4 Điều này”.

10. Bị mất Giấy chứng minh nhân dân, lại chưa làm thẻ Căn cước công dân, lợi dụng tình thân bạn bè, Phạm Văn R đã mượn thẻ Căn cước công dân của Võ Văn P để mua vé máy bay. R tặng P 01 đôi găng tay len để cảm ơn P dã cho mượn  thẻ Căn cước công dân. Vụ việc bị phát hiện. R và P bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân, trong đó có hành vi tại điểm đ: “đ) Mượn, cho mượn Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, R và P còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 6 Điều 10 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là: “a) Buộc nộp lại Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân hoặc Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 và điểm đ khoản 4 Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại các điểm a, c, d và đ khoản 4 Điều này”.

11. Một lần đi làm nương, Vi Văn K ở xã  AT, huyên miền núi PQ nhặt một quả lựu đạn và đã đem quả lựu đạn này về nhà để tháo lấy thuốc nổ. Nhận được tin báo của nhân dân, công an xã AT đã đến nhà K và bắt quả tang K đang tháo quả lựu đạn để lấy thuốc nổ. Hành vi của K bị xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 4 Điều 11 Nghị định số Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm, trong đó có hành vi tại điểm h: “h) Cưa, cắt, đục hoặc thực hiện các thao tác khác để tháo bom, mìn, đạn, lựu đạn, quả nổ, ngư lôi, thủy lôi và các loại vũ khí khác trái phép”. Như vậy, việc K tháo quả lựu đan để  lấy thuốc nổ là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

Ngoài ra, K còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy dịnh tại điểm a khoản 7 Điều 11 Nghị định số Nghị định số 144/2021/NĐ-CP “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm d và đ khoản 1; các điểm a, b, c, e và g khoản 2; các điểm a, c, d, đ, e, h, i và k khoản 3; các điểm a, b, c, d, đ, e, h và i khoản 4 và khoản 5 Điều này”.

12. Nguyễn Van D là con của ông Nguyễn Văn K, ở tại xã HC, huyện KS. D là đổi tượng ăn chơi, lêu lổng. Để có tiền tiêu xài, một lần dùng xe máy của ông K đi giao hàng cho khách, D đã lấy xe máy của ông K cùng toàn bộ giấy tờ mang tên ông K đi cầm cố tại hiệu cầm đồ của bà N để lấy số tiền 1.000.000 vỡi lãi suất 0,2%/ngày.  Hành vi vi phạm sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, trong đó có hành vi quy định tại điểm l: “l) Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”.

Như vậy, với hành vi nhận cầm cố chiếc xe máy thuộc sở hữu của ông K nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của ông K cho D mang tài sản đi cầm cố, bà N bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà N còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 7 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được đối với hành vi quy định tại các điểm đ, i, k, l, m, n và r khoản 3; các điểm d, đ và k khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này;”.

13. Hà Văn B là đối tượng hư hỏng ở tại xã BS, huyên BC. Một lần đi qua nhà ông G ở cùng xã, thấy chiếc xe máy cũ để ngoài sân, B đã lấy trộm rồi đem tới tiệm cầm đồ của ông Q cầm cố chiếc xe máy lấy 300.000 đồng. Biết B là đối tượng chuyên trộm cắp, khi cầm cố không có giấy tờ sở hữu nhưng ông G vẫn cho cầm cố xe và đưa tiền cho B, lãi suất 0,2%/ngày. Cơ quan chức năng đã phát hiện sự việc. Hành vi của ông G bị xử phạt thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, trong đó có hành vi quy định tại điểm b: “b) Nhận cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do người khác phạm tội mà có nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, với hành vi nhận cầm cố tài sản do trộm cắp nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ông G sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông G còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại:

- Điểm b khoản 6 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Tước quyền sử dụng Giấy phép, Chứng chỉ hành nghề, Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự trong thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng đối với các hành vi vi phạm quy định tại các điểm h và q khoản 3; điểm d khoản 4 và khoản 5 Điều này”.

- Điểm d khoản 6 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi định tại các điểm b, c, h, m, n và r khoản 3; các điểm c và k khoản 4 và các điểm b, đ và e khoản 5 Điều này”.

Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền, biện pháp xử phạt bổ sung, ông G còn bị thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được đối với hành vi quy định tại các điểm đ, i, k, l, m, n và r khoản 3; các điểm d, đ và k khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này”.

14. Do túng thiếu, nợ nần nên Nguyễn Văn A ở tại xã PH, huyện KG đã đột nhập vào nhà ông Lê Văn M ở cùng xóm để trộm tài sản, và lấy trộm 2 con gà và một bao thóc để bán, nhưng đã bị ông M phát hiện và bắt giữ. Hạnh động này của A bị phạt thế  nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản”.

Như vậy, với hành vi vào nhà ông M lấy trộm gà và thóc, A sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, A còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 và các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều này;”, cụ thể là A bị tịch thu 2 con gà và bao thóc mà A đã lấy trộm được.

15. Hoàng Văn S ở tại xã ĐK, huyện SX lấy trộm được chiếc điện thoại cũ và đem về cho người yêu là Lê Thị B nhờ bán giúp. Mặc dù biết là điện thoại do S trộm cắp được nhưng B vẫn đem bán chiếc điện thoại giúp cho S được 300.000 đồng. Hành vi của B có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác, trong đó có hành vi quy định tại điểm d: “d) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có”.

Như vậy, với hành vi bán chiếc điện thoại mà S lấy trộm được, B sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, B còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều này”. Cụ thể là nộp lại số tiền 300.000 đồng do bán điện thoại.

16. Bà Lê Thị X ở tại số 15 đường LVD, phường TS, thành phố  LH là chủ họ, mà thành viên là chị em tiểu thương ở chợ S. Thời gian sau, bà chuyển nơi cư trú khác mà không thông báo cho các thành viên. Hành vi của bà X có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về họ, hụi, biêu, phường, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Không thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi”.

Nhu vậy, với hành vi đã chuyển đến ở nơi cư trú mới mà không thông báo cho các thành viên, bà X sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

17. Bà Nguyện Thi M cư trú tại phường LT, thành phố XQ là chủ họ và tổ chức ba dây họ, nhưng không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân phường LT. Hành vi này của bà M có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về họ, hụi, biêu, phường, trong đó có hành vi quy định tại điểm b: “b) Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức từ hai dây họ trở lên”.

Như vậy, với hành vi vi phạm của mình, bà M sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

18. Bà Võ Thị Q ở tại phường SQ, thành phố MN đã tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay lến đến 50%/năm. Bà cho rằng lãi suất này là theo thỏa thuận của các bên. Vậy, bà Q có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất, như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.

Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về họ, hụi, biêu, phường, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Như vậy, với hành vi tổ chức họ đẻ cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay lến đến 50%/năm, bà Q sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà Q còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 16 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này”.

19. Ông Hoàng Văn D vừa mua một ngôi nhà tại phường HG, thành phố TD. Trong khuôn viên đất mà ông mua có sẵn cột dây điện thoại của Công ty bưu chính viễn thông M. Cho rằng, cột dây điện thoại của Công ty bưu chính viễn thông M trên đất vườn nhà gây cản trở cho việc trồng trọt, ông D đã tự xê dịch cột này ra khỏi vườn mà không thông báo cho công ty viễn thông M. Hành vi này của ông D có vi phạm pháp luật không, xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Tự ý xê dịch, tháo dỡ cột dây điện thoại, điện tín, cột đèn, hàng rào của các cơ quan nhà nước hoặc các công trình công cộng khác”.

Như vậy, với việc tự ý xê dịch cột dây điện thoại của Công ty viễn thông M, ông D sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông D còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này” và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này”.

20. Bà J là người nước ngoài sang Việt Nam thăm con. Bà thường xuyên đi lại nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam để tìm hiểu ẩm thực và phong tục của Việt Nam nhưng không bao giờ mang theo hộ chiếu. Bà J có vi phạm pháp luật Việt Nam không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người nước ngoài đi lại trên lãnh thổ Việt Nam mà không mang theo hộ chiếu, giấy thông hành, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế, giấy tờ cấp cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam hoặc thẻ ABTC.

Như vậy, với việc đi lại nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam mà không mang theo hộ chiếu, bà J sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.

Ngoài ra, bà J còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm b khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

21. Ông F là người ngoại quốc sang Việt Nam để tìm việc làm. Trong một lần đi tìm việc, ông F đánh mất hộ chiếu, nhưng ông F không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc mình bị mất hộ chiếu. Ông F có vi phạm pháp luật Việt Nam không?

Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất, hư hỏng hộ chiếu, giấy thông hành, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy tờ cấp cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam hoặc thẻ ABTC”.

Như vậy, với việc làm mất hộ chiếu mà không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất hộ chiếu, ông F sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông F còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm b khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

22. Ông Shune là người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú tại phương MC, thành phố SQ. Sau đó, ông thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại. Hành vi của ông sẽ bị pháp luật Việt Nam xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại, trong đó có hành vi quy định tại điểm g như sau: “Người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại; người nước ngoài nhập cảnh vào khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế ven biển theo diện miễn thị thực đi đến địa điểm khác của Việt Nam mà không có thị thực Việt Nam theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, với việc đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại, ông Shune sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông Shune còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm b khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

23. Do không có đầy đủ giấy tờ nên bà Manuel là người nước ngoài không làm được hộ chiếu để sang Việt Nam. Qua môi giới, bà Manuel đã làm hộ chiếu giả và sử dụng hộ chiếu giả này để nhập cảnh vào Việt Nam. Hành vi này của bà bị cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện. Bà Manuel sẽ bị xử phạt thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Sử dụng hộ chiếu giả, giấy thông hành giả, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy tờ cấp cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam giả hoặc thẻ ABTC giả”.

Như vậy, với hành vi sử dụng hộ chiếu giả, bà Manuel sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà Manuel còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm b khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

24. Mặc dù không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, nhưng ông Yonki là người nước ngoài vẫn hành nghề chữa bệnh tại Việt Nam. Hành vi này của ông Yonki đã bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện. Ông Yonki sẽ bị xử lý như thê nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Người nước ngoài nhập cảnh, hành nghề hoặc có hoạt động khác tại Việt Nam mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam”.

Như vậy, với hành vi hành nghề tại Việt Nam mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, ông Yonki sẽ bị phạt tiền  từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông Yonki còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP:

“a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm b, c, d khoản 3; điểm a khoản 4; điểm a khoản 5; điểm c khoản 6; điểm a, d khoản 7 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

Đồng thời, ông Yonki còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 9 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “9. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 3 và các điểm a và c khoản 5 Điều này”.

25. Do không có giấy tờ hợp lệ, nên ông Frank là người nước ngoài đã giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được cấp hộ chiếu đến Việt Nam và bị cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện, xử phạt. Mức phạt đối với ông Frank như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng  đối với một trong những hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại, trong đó có hành vi quy định tại điểm c: “c) Giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được cấp hộ chiếu, giấy thông hành, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; giấy tờ cấp cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam hoặc thẻ ABTC”.

Như vậy, với hành vi giả mạo hồ sơ, giấy tờ để được cấp hộ chiếu, ông Frank sẽ bị phạt tiền  từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông Frank còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP:

“a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm b, c, d khoản 3; điểm a khoản 4; điểm a khoản 5; điểm c khoản 6; điểm a, d khoản 7 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

26.  Theo nhiệm vụ, Ông Võ Văn Đ là công chức của cơ quan X được phân công lưu giữ một số tài liệu mật. Một lần ông đã mang một văn bản mật ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác mà không được phép của người có thẩm quyền. Vụ việc bị phát hiện. Ông Đ sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó có hành vi quy định tại điểm d: “d) Mang tài liệu chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác mà không được phép của người có thẩm quyền”.

Như vậy, với hành vi mang tài liệu chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác mà không được phép của người có thẩm quyền, ông Đ bị phạt tiền  từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông Đ còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 6 Điều 19 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Buộc nộp lại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đối với hành vi quy định tại các điểm b, d, đ và e khoản 1; điểm a khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều này”.

27. Mặc dù cơ quan đã trang bị riêng một máy tính chuyên phục vụ cho việc soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước, nhưng ông Hồ Văn K vẫn soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính đang kết nối với mạng Internet. Với hành vi này K sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông không đúng quy định của pháp luật”.

Như vậy, với hành vi soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính đã kết nối với mạng Internet, ông K sẽ bị phạt phạt tiền  từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông K còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại diểm c khoản 6 Điều 19 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “c) Buộc gỡ bỏ tài liệu bí mật nhà nước đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3 và các điểm b và c khoản 4 Điều này”

28. Cô M ở xã QX, huyện PG làm nghề tự do. Vừa qua, cô M đã mặc trang phục Công an nhân dân và quay clip tung lên mạng để sống ảo, câu like, câu view. Hành vi này của M bị xử lý như thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, giấy chứng minh Công an nhân dân hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng Công an nhân dân.

Như vậy, với hành vi sử dụng trái phép trang phục dành riêng cho lực lượng Công an nhân dân, cô M sẽ bị phạt tiền  từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

Ngoài ra, cô M còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 4 Điều 20 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này”.

29. Doanh nghiệp tư nhân DC chuyên sản xuất mắm ruốc và nước mắm. Địa điểm sản xuất trong khu dân cư tại xã PD, huyện GN nên nguy cơ ô nhiễm môi trường rất lớn. Cơ quan chức năng đã lập đoàn kiểm tra đối với doanh nghiệp này. Tuy nhiên, khi Đoàn kiểm tra đến nơi thì chủ doanh nghiệp đã cho người ra cản trở, không cho Đoàn kiểm tra vào làm việc. Hành vi này của chủ doanh nghiệp bị xử phạp thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền  từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong những hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ, trong đó có hành vi quy định tại điểm a: “a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật”.

Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: “2. Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”.

Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: “3. Tổ chức quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này bao gồm: a) Tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp”. Như vậy, doanh nghiệp tư nhân DC là tổ chức vi phạm hành chính và bị áp dụng mức tiền phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP.

Căn cứ các quy định nêu trên, với hành vi cản trở yêu cầu kiểm tra  của người thi hành công vụ, doanh nghiệp tư nhân DC sẽ bị phạt tiền  từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng .

30. Nguyễn Văn K làm nghề thợ xây, trú tại xã CS, huyện AV  là người nghiện ma túy, nên K thường xuyên sử dụng ma túy. Hành vi của K có bị xử phạt vi phạm hành chính không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Như vậy, với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, K sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Ngoài ra, K còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 8 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

31. Bà Cener là người nước ngoài thuê một ngôi nhà tại xã CS, huyện PS để ở. Lợi dụng khu vực nơi bà sinh sống là nơi xa khu dân cư, vắng vẻ nên bà đã trồng cây thuốc phiện trong vườn nhà. Khi bị cơ quan chức năng phát hiện, bà trình bày lý do trồng cây thuốc phiện để làm thuốc chữa bệnh. Hành vi này của bà Cener có bị xử phạt không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: “3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi trồng các loại cây thuốc phiện, cây cần sa, cây coca, cây khát và các loại cây khác có chứa chất ma túy”.

Như vậy, với hành vi trông cây thuốc phiện trong vườn nhà, bà Cener sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà Cener còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a và điểm d khoản 8 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP:

“a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này;

d) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.

32. Nguyễn Văn B là đối tượng vừa mãn hạn tù, cư trú tại phường ĐN. Vừa ra tù, B mở một quán cà phê nhỏ nói là để kiếm sống nhưng thực chất là để che giấu cho các hành vi mua dâm, bán dâm. Ít lâu sau thì việc làm của B bị phát hiện và xử lý. B sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: “2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi che giấu, bảo kê cho các hành vi mua dâm, bán dâm”.

Như vậy, với hành vi che giấu cho các hành vi mua dâm, bán dâm, B sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, B còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 6 Điều 26 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này”.

33. Võ Văn L làm nghề thợ xây ở tại xã GS, huyện XV, gia cảnh nghèo khó. L muốn thoát nghèo nhanh chóng nên thường mua số đề để mong gặp may mà trở nên giàu có. Hành vi mua số đề của L có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: “1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề”.

Như vậy, với hành vi mua số đề, L sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.

Ngoài ra, L còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 6 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này”.

L còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này”.

34. Nguyễn Văn V là lái xe được thuê chở một số bình gaz đến cửa hàng  kinh doanh Gaz BN. Trên xe chở các bình gaz, V còn chở thêm hàng hóa khác như nệm, tủ nhựa… mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi của V có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 3 Điều 34 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định trong vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ, trong đó có hành vi  quy định tại điểm b: “b) Vận chuyển hàng hóa khác cùng với hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trên cùng một phương tiện vận chuyển mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền”.

Như vậy, với hành vi nêu trên, V sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

35. Hoàng Văn Q là lái xe cho Công ty xăng dầu XS. Trong một lần trên đường chở các bình gaz đến của hàng của Công ty, anh Q đã tự ý bốc dỡ các bình gaz này sang xe của Lê Viết K, mặc dù chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi này của Q bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 5 Điều 34 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định trong vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ, trong đó có hành vi  quy định tại điểm h: “h) Bốc, dỡ, bơm, chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đang trên đường vận chuyển sang phương tiện khác khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền”.

Như vậy, Q đã có hành vi vi phạm quy định tại điểm h khoản 5 Điều 34 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Với hành vi vi phạm này, Q sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

36. Nguyễn Văn Y là chủ quán karaoke XG, ở tại huyện VA, tỉnh A. Khi cơ quan chức năng đột xuất kiểm tra đã phát hiện lối thoát nạn của quán bị chất đầy hàng hóa, xe máy, gây cản trở lối thoát nạn. Ngoài ra, Y còn khóa cửa thoát nạn với lý do là để chống trộm đột nhập. Chủ quán Y sẽ bị phạt thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 40 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về thoát nạn trong phòng cháy và chữa cháy, trong đó có hành vi  quy định tại điểm a: “a) Bố trí, sắp xếp vật tư, hàng hóa, phương tiện giao thông và các vật dụng khác cản trở lối thoát nạn”.

Khoản 4 Điều 40 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm quy định về thoát nạn trong phòng cháy và chữa cháy, trong đó có hành vi  quy định tại điểm a: “a) Khóa, chèn, chặn cửa thoát nạn”.

Như vậy, Y đã có hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 40 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP và . Với hành vi này Y sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (hành vi tại điểm a khoản 2) và bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (hành vi tại điểm a khoản 4).

Ngoài ra, Y còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 6 Điều 40 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2; các khoản 4 và 5 Điều này”.

37. Ông Nguyễn Văn U cùng vợ con sống chung với mẹ đẻ là bà V tại xã KD, huyện AQ. Bà V đã già yếu, lại hay đau ốm nên ông U thường xuyên bực tức, khó chịu với bà. Đỉnh điểm là vừa qua, ông đã dùng gậy sắt đánh bà bị thương phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Cơ quan chức năng đã làm việc và lập biên bản vi phạm hành chính. Hành vi của ông U sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 52 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình, trong đó có hành vi  quy định tại điểm a: “a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình”.

Căn cứ quy định nêu trên, ông U đã cso hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Như vậy, ông U sẽ bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông U còn bị áp dụng biên pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP:

“3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này;

b) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này”.

38. Ông Lê Văn C ở xã XQ, huyện RN có người mẹ già yếu, mất trí nhớ, hay đi lang thang… Ông C thường xuyên chửi bới, hành hạ bà. Nhiều khi ông còn bỏ mặc bà, không cho ăn uống, chịu rét…Pháp luật quy định xử lý thế nào về hành vi của ông.

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 1 Điều 53 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình, trong đó có hành vi  quy định tại điểm a: “a) Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân”.

Căn cứ quy định trên đây, ông C đã có hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 53 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Như vậy, ông C sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông C còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 53 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này”.

39. Do mâu thuẫn vợ chồng và nghi ngờ vợ ngoại tình, nên ông Đ ở xã SD, huyện GX đã sử dụng facebook để đăng những bài viết chửi bới, xúc phạm danh dự của vợ. Hành vi của ông Đ bị xử lý thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 54 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình, trong đó có hành vi  quy định tại điểm b: “b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình”.

Như vậy, với hành vi của mình, ông Đ sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, ông Đ còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 3 Điều 54 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP: “a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này”.

40. Anh V và chị B là con của bà L. Cậy mình là con trai trưởng nên anh V muốn chiếm đoạt toàn bộ nhà, đất do cha mẹ để lại. Sau khi lập gia đình riêng, V đã đe dọa, đánh đập buộc chị B phải ra khỏi nhà của mẹ mình. Hành vi của V bị xử phạt thế nào?

Trả lời (có tính chất tham khảo)

Khoản 2 Điều 59 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ: “2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa bằng bạo lực để buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp của họ”.

Như vậy, V đã có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 59 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP và sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

II. TÌNH HUỐNG GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH, THỂ THAO; QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN; VĂN HÓA VÀ QUẢNG CÁO

1. Chị Hoa cùng bạn bè tham gia du lịch tại khu du lịch H. Trong quá trình tham quan, chị và bạn bè có một số vấn đề bức xúc liên quan đến việc hướng dẫn, đón tiếp ở đây và rất muốn phản ánh, kiến nghị đến đơn vị quản lý khu du lịch này nhưng chỉ có người nhân viên xin được ghi nhận lại ý kiến của chị và hẹn sẽ báo cáo cấp trên để giải quyết sau, tuy nhiên đến khi chị Hoa gần kết thúc chuyến du lịch (hơn 10 ngày) thì mới nhận được thông tin giải quyết về vấn đề chị phản ánh, kiến nghị. Chị Hoa đề nghị cho biết, pháp luật có quy định về việc tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của khách du lịch không và trường hợp có quy định mà thực hiện không đúng thì bị xử phạt hành chính như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 14 Luật Du lịch năm 2017 quy định giải quyết kiến nghị của khách du lịch như sau:

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, quản lý khu du lịch, điểm du lịch tổ chức tiếp nhận và gilải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý.

2. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của khách du lịch trên địa bàn.

3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp nhận, giải quyết hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kiến nghị của khách du lịch.

Khoản 1, 2 Điều 6 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định:

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không có nhân lực hoặc cơ sở vật chất để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của khách du lịch trong phạm vi quản lý.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi giải quyết không kịp thời kiến nghị, phản ánh của khách du lịch trong phạm vi quản lý khi nhận được kiến nghị, phản ánh.

Khoản 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định:

- Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Như vậy, pháp luật quy định trách nhiệm tổ chức tiếp nhận và gilải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, quản lý khu du lịch, điểm du lịch, Ủy ban nhân dân các cấp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trong trường hợp chi Hoa, đơn vị quản lý khu du lịch đã không bảo đảm việc tiếp nhận và gilải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý. Căn cứ các quy định về xử phạt vi phạm hành chính nêu trên, đơn vị này bị có thể bị xử phạt về hai hành vi, đó là: Hành vi không có nhân lực hoặc cơ sở vật chất để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của khách du lịch trong phạm vi quản lý (mức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 400.000 đồng đến 1.000.000 đồng); hành vi giải quyết không kịp thời kiến nghị, phản ánh của khách du lịch trong phạm vi quản lý khi nhận được kiến nghị, phản ánh (phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng).

2. Anh Trần Văn Hòa cho biết, vừa qua anh mới tham gia tour du lịch do Công ty du lịch lữ hành S tổ chức. Ngoài tiền tour du lịch trọng gói như giới thiệu ban đầu, quá trình tham gia tour, anh Hòa và các thành viên còn bị yêu cầu đóng thêm mỗi người 500.000 đồng nhưng phía đơn vị tổ chức không nói rõ chi phí đóng thêm này để làm gì. Anh Hòa đề nghị cho biết, hành vi này của công ty S có vi phạm pháp luật không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Luật Du lịch năm 2017 thi hành vi “Phân biệt đối xử với khách du lịch, thu lợi bất hợp pháp từ khách du lịch; tranh giành khách du lịch, nài ép khách du lịch mua hàng hóa, dịch vụ” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động du lịch.

Khoản 4, 9 Điều 6 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định: 

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện tai nạn hoặc rủi ro, sự cố xảy ra với khách du lịch;

b) Không giải quyết kiến nghị, phản ánh của khách du lịch trong phạm vi quản lý;

c) Thu lợi bất hợp pháp từ khách du lịch.

9. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại điểm c khoản 4 nêu trên.

Khoản 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định:

- Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Theo các quy định trên, Công ty S đã có hành vi thu lợi bất hợp pháp từ khách du lịch. Đây là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động du lịch. Hành vi này của công ty S có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

3. Chị Hoàng Thu Thảo và người bạn cùng tham gia tour du lịch do Công ty P tổ chức. Khi đến tham quan, vui chơi tại thác nước của một địa điểm du lịch, do không được cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm nên bạn chị Thảo đã không chú ý dẫn đến bị tai nạn. Chị Thảo đề nghị cho biết, công ty kinh doanh du lịch có trách nhiệm trong việc cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho khách du lịch không và nếu có mà công ty P không thực hiện thì bị xử phạt hành chính như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 13 Luật Du lịch năm 2017 quy định về bBảo đảm an toàn cho khách du lịch như sau:

1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu du lịch, điểm du lịch.

2. Tổ chức, cá nhân quản lý khu du lịch, điểm du lịch có biện pháp phòng, tránh rủi ro và tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn cho khách du lịch.

3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho khách du lịch; thông báo, chỉ dẫn kịp thời cho khách du lịch trong trường hợp khẩn cấp; áp dụng biện pháp cần thiết, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cứu hộ, cứu nạn cho khách du lịch.

Khoản 5, 8 Điều 6 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định: 

5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho khách du lịch;

b) Không thông báo, chỉ dẫn cho khách du lịch trong trường hợp khẩn cấp.

8. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại các khoản 5, 6 và 7 Điều này.

Khoản 2 và 3 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định:

- Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Căn cứ các quy định trên, Công ty kinh doanh du lịch có trách nhiệm cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho khách du lịch. Trong trường hợp này, nếu do Công ty P không cảnh báo nguy hiểm cho khách du lịch thì công ty P phải bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng.

4. Trong quá trình tham gia du lịch, đoàn du khách do Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành T tổ chức có người có hành vi vi phạm pháp luật. Khi được cơ quan chức năng nhà nước yêu cầu phối hợp xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người khách du lịch này, Công ty T đã không tích cực phối hợp, dẫn đến sự chậm trễ, ảnh hưỏng đến việc xử lý của cơ quan chức năng nhà nước. Hành vi chậm trễ này của Công ty T có vi phạm pháp luật không và có bị xử phạt vi phạm hành chính không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điểm g khoản 1 Điều 37 Luật Du lịch năm 2017 quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa có quyền và nghĩa vụ phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch.

Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi phối hợp không kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ quy định trên, Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành T đã có hành vi phối hợp không kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch. Việc này vi phạm quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Hành vi phối hợp không kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

5. Bà Trần Nguyễn Thu Thanh vừa tham gia tour du lịch lữ hành do Công ty Q tổ chức đến Singapore. Do chưa hiểu rõ phong tục, tập quán ở đây, bà Thanh đã có hành vi bị cơ quan chức năng Singapocre nhắc nhở, yêu cầu chấn chỉnh. Bà Thanh cảm thấy xấu hổ. Sau khi về nước, người bạn của bà có nói với bà là lẽ ra Công ty Q phải phổ biến cho khách du lịch về phong tục, tập quán của nơi đến du lịch để khách du lịch biết và ứng xử cho phù hợp. Công ty Q cũng có lỗi khi để xảy ra sự việc đáng tiếc này. Bà Thanh đề nghị cho biết, pháp luật có quy định về vấn đề này không? Trường hợp Công ty Q có vi phạm thì bị xử phạt hành chính không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 37 Luật Du lịch năm 2017 thì doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch ra nước ngoài có quyền và nghĩa vụ chấp hành, phổ biến, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật, quy định của nơi đến du lịch; ứng xử văn minh, tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của Việt Nam và nơi đến du lịch; phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch.

Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không hướng dẫn, cung cấp cho bên nhận đại lý lữ hành thông tin liên quan đến chương trình du lịch;

b) Không phổ biến, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật, quy định của nơi đến du lịch;

c) Không phổ biến, hướng dẫn khách du lịch ứng xử văn minh, tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của Việt Nam và nơi đến du lịch;

d) Hợp đồng lữ hành thiếu một trong các nội dung theo quy định;

đ) Chương trình du lịch thiếu một trong các nội dung theo quy định;

e) Hợp đồng đại lý lữ hành thiếu một trong các nội dung theo quy định.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ quy định trên, công ty Q phải có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật, quy định của nơi đến du lịch; ứng xử văn minh, tôn trọng bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của Việt Nam và nơi đến du lịch. Nếu Công ty Q không thực hiện nghĩa vụ này là vi phạm pháp luật và bị xử phạt vi phạm hành chính với phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

6. Bà Hoa là nhân viên của Công ty N kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Bà cho biết, vừa qua cơ quan chức năng có kiểm tra và đã ghi nhận việc Công ty N không thông báo bằng văn bản về việc thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định. Bà Hoa đề nghị cho biết, hành vi này bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền là bao nhiêu?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 37 Luật Du lịch năm 2017 thì doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có quyền và nghĩa vụ thông báo về việc thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành, gửi hồ sơ về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành thay thế cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép trong thời hạn 15 ngày kể từ khi thay đổi.

Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không gửi hồ sơ về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành thay thế theo quy định;

b) Không thông báo bằng văn bản về việc thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định;

c) Cung cấp thông tin không rõ ràng hoặc không công khai hoặc không trung thực về chương trình du lịch, dịch vụ, điểm đến du lịch cho khách du lịch hoặc đại diện khách du lịch.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ các quy định trên, công ty N đã có hành vi vi phạm là không thông báo bằng văn bản về việc thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định. Hành vi này bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

7. Ông Lê Văn Bình nhận được ấn phẩm quảng cáo do nhân viên Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa TP gửi. Khi đọc ấn phẩm này, ông Bình tìm thông tin về số giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành để tránh bị lừa đảo, nhưng không thấy. Qua tìm hiểu, ông Bình được biết, công ty TP là có thật và có kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa. Ông đề nghị cho biết, pháp luật có quy định về việc công khai số giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành không? Nếu có quy định mà không thực hiện thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điểm b khoản 1 Điều 37 Luật Du lịch năm 2017 quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa có quyền và nghĩa vụ bảo đảm duy trì các điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Du lịch; công khai tên doanh nghiệp, số giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trên biển hiệu tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng giao dịch, trong hợp đồng lữ hành, trên ấn phẩm quảng cáo và trong giao dịch điện tử.

Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách du lịch trong thời gian tham gia chương trình du lịch;

b) Không cung cấp thông tin về chương trình du lịch, dịch vụ, điểm đến du lịch cho khách du lịch hoặc đại diện khách du lịch;

c) Không công khai tên doanh nghiệp, số giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trên biển hiệu tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng giao dịch hoặc trong hợp đồng lữ hành hoặc trên ấn phẩm quảng cáo hoặc trong giao dịch điện tử.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Như vậy, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa có trách nhiệm công khai tên doanh nghiệp, số giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trên biển hiệu tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng giao dịch, trong hợp đồng lữ hành, trên ấn phẩm quảng cáo và trong giao dịch điện tử. Trường hợp không thực hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

8. Qua kiểm tra của cơ quan chức năng phát hiện Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa PQ có sử dụng 03 hướng dẫn viên du lịch nội địa không có hợp đồng lao động với doanh nghiệp. Công ty PQ đề nghị cho biết, pháp luật quy định hành vi này bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 3 Điều 58 Luật Du lịch năm 2017 quy định điều kiện hành nghề của hướng dẫn viên du lịch bao gồm:

a) Có thẻ hướng dẫn viên du lịch;

b) Có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch hoặc là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế và hướng dẫn viên du lịch nội địa;

c) Có hợp đồng hướng dẫn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc văn bản phân công hướng dẫn theo chương trình du lịch; đối với hướng dẫn viên du lịch tại điểm, phải có phân công của tổ chức, cá nhân quản lý khu du lịch, điểm du lịch.

Khoản 5 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hướng dẫn viên du lịch nội địa không có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch hoặc không là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch theo quy định;

b) Sử dụng hướng dẫn viên du lịch để hướng dẫn cho khách du lịch không đúng phạm vi hành nghề của hướng dẫn viên du lịch;

c) Sử dụng hướng dẫn viên du lịch để thực hiện chương trình du lịch mà không có hợp đồng hướng dẫn hoặc văn bản phân công hướng dẫn theo quy định;

d) Không viết hoặc không gắn tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ các quy định trên, hành vi sử dụng hướng dẫn viên du lịch nội địa không có hợp đồng lao động với doanh nghiệp của Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa PQ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

9. Bà Lan cho biết, bà có đăng ký tham gia chương trình du lịch tại đại lý lữ hành của ông Hoàng, sau đó bà phát hiện giá bán chương trình du lịch tại đại lý ông Hoàng có sự chênh lệch cao hơn nhiều so với giá gốc. Được biết, ông Hoàng nhận làm đại lý lữ hành với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành HT. Bà Lan đề nghị cho biết, việc để bên nhận không thực hiện đúng giá bán chương trình du lịch được giao cho đại lý có trách nhiệm của bên Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành không? Việc thiếu trách nhiệm này bị xử lý như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 42 Luật Du lịch năm 2017 quy định trách nhiệm của bên giao đại lý lữ hành như sau:

1. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên nhận đại lý lữ hành.

2. Tổ chức thực hiện chương trình du lịch do bên nhận đại lý lữ hành bán; chịu trách nhiệm với khách du lịch về chương trình du lịch giao cho bên nhận đại lý lữ hành.

3. Hướng dẫn, cung cấp cho bên nhận đại lý lữ hành thông tin liên quan đến chương trình du lịch.

Khoản 6 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

 Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không có biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên nhận đại lý lữ hành;

b) Không có biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động của hướng dẫn viên du lịch theo quy định;

c) Không tổ chức thực hiện chương trình du lịch do bên nhận đại lý lữ hành bán.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Theo quy định trên, bên giao đại lý lữ hành là kinh doanh dịch vụ lữ hành HT phải có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên nhận đại lý lữ hành để đảm bảo bên nhận đại lý thực hiện đúng hợp đồng đại lý lữ hành. Trường hợp bên giao đại lý không có biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên nhận đại lý lữ hành thì bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

10. Bà Thanh dự định tham gia chương trình du lịch của công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành PT. Qua tìm hiểu, bà được biết giá tham gia chương trình du lịch bao gồm cả tiền mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch. Bà Thanh đề nghị cho biết, bà có thể đề nghị công ty không mua bảo hiểm cho bà trong trường hợp này để giảm giá được không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điểm đ khoản 1 Điều 37 Luật Du lịch năm 2017 quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa có quyền và nghĩa vụ mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch, trừ trường hợp khách du lịch đã có bảo hiểm cho toàn bộ chương trình du lịch.

Khoản 9, điểm d khoản 15 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch theo quy định;

b) Không sử dụng dịch vụ do tổ chức, cá nhân thuộc Danh mục tổ chức, cá nhân đáp ứng đầy đủ các biện pháp bảo đảm an toàn cho khách du lịch theo quy định;

c) Sử dụng hướng dẫn viên du lịch có hành vi cung cấp, giới thiệu cho khách du lịch các nội dung thông tin mang tính chất xuyên tạc lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia.

Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi nêu trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Theo quy định trên, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch, trừ trường hợp khách du lịch đã có bảo hiểm cho toàn bộ chương trình du lịch. Nếu vi phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng. Như vậy, bà Thanh chỉ có thể thể đề nghị công ty PT không mua bảo hiểm cho khách du lịch trong thời gian thực hiện chương trình du lịch nếu như bà đã có bảo hiểm này.

11. Anh Hùng tham gia chương trình du lịch do công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành XT tổ chức. Quá trình tham gia chương trình, anh Hùng nhận thấy hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hướng dẫn viên du lịch. Anh Hùng đề nghị cho biết, hành nghề hướng dẫn viên du lịch có phải có thẻ hướng dẫn viên du lịch không? Trường hợp công ty dịch vụ lữ hành sử dụng người không có thẻ hướng dẫn viên du lịch để hướng dẫn cho khách du lịch thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 3 Điều 58 Luật Du lịch năm 2017 quy định điều kiện hành nghề của hướng dẫn viên du lịch bao gồm:

a) Có thẻ hướng dẫn viên du lịch;

b) Có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch hoặc là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế và hướng dẫn viên du lịch nội địa;

c) Có hợp đồng hướng dẫn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc văn bản phân công hướng dẫn theo chương trình du lịch; đối với hướng dẫn viên du lịch tại điểm, phải có phân công của tổ chức, cá nhân quản lý khu du lịch, điểm du lịch.

Điểm g khoản 2 Điều 65 Luật Du lịch năm 2017 quy định hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch.

Khoản 10 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng người không có thẻ hướng dẫn viên du lịch để hướng dẫn cho khách du lịch;

b) Sử dụng người sử dụng thẻ hướng dẫn viên du lịch giả để hướng dẫn cho khách du lịch.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ quy định trên, một trong những điều kiện hành nghề của hướng dẫn viên du lịch là phải có thẻ hướng dẫn viên du lịch. Hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch. Trường hợp công ty XT sử dụng người không có thẻ hướng dẫn viên du lịch để hướng dẫn cho khách du lịch thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

12. Chị Quý phụ trách nhân sự tại Công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa GH. Công ty GH dự định bổ nhiệm anh Quang tốt nghiệp đại học kinh tế để phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành. Chị Quý  đề nghị cho biết, pháp luật có quy định về điều kiện chuyên ngành học của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành không? Nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 1 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017 quy định diều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa bao gồm:

a) Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp;

b) Ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa tại ngân hàng;

c) Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành phải tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành về lữ hành; trường hợp tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành khác phải có chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch nội địa.

 Điều 3 Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL ngày 15/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số Điều của Luật Du lịch quy định về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

1. Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành là người giữ một trong các chức danh sau: chủ tịch hội đồng quản trị; chủ tịch hội đồng thành viên; chủ tịch công ty; chủ doanh nghiệp tư nhân; tổng giám đốc; giám đốc hoặc phó giám đốc; trưởng bộ phận kinh doanh dịch vụ lữ hành.

2. Chuyên ngành về lữ hành quy định tại điểm c Khoản 1 và điểm c Khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch bao gồm một trong các chuyên ngành sau:

a) Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành;

b) Quản trị lữ hành;

c) Điều hành tour du lịch;

d) Marketing du lịch;

đ) Du lịch;

e) Du lịch lữ hành;

g) Quản lý và kinh doanh du lịch.

3. Văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công nhận theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Khoản 11 và điểm a khoản 15 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện đúng quy định về ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành;

b) Không bổ sung đủ số tiền ký quỹ đã sử dụng theo quy định;

c) Sử dụng người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành không bảo đảm điều kiện theo quy định.

Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm nêu trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Như vậy, pháp luật quy định cụ thể về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành, trong đó nêu rõ chuyên ngành về lữ hành như trên. Trường hợp công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành có hành vi sử dụng người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành không bảo đảm điều kiện theo quy định thì bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành từ 06 tháng đến 12 tháng.

13. Công ty QY đang tiến hành thủ tục đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành. Trong thời gian chờ xem xét giải quyết, công ty QY đã tổ chức kinh doanh dịch vụ lữ hành. Hành vi này có bị xử lý vi phạm hành chính không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật Du lịch năm 2017, nghiêm cấm hành vi kinh doanh du lịch khi không đủ điều kiện kinh doanh, không có giấy phép kinh doanh hoặc không duy trì điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Khoản 14 và điểm a khoản 16 Điều 7 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau:

Phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Kinh doanh dịch vụ lữ hành sau khi đã thông báo tạm ngừng hoạt động;

b) Kinh doanh dịch vụ lữ hành sau khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành;

c) Kinh doanh dịch vụ lữ hành sau khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành;

d) Hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành mà không có giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành;

đ) Sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành giả để hoạt động kinh doanh.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm nêu trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ các quy định trên, công ty QY đã có hành vi hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành mà không có giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành. Hành vi này bị phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được.

14. Chị Trang tham gia chuyến du lịch do công ty HB tổ chức. Trong quá trình tham gia chuyên đi, chị Trang không hài lòng về thái độ của hướng dẫn viên du lịch, chị có yêu cầu hướng dẫn viên thay đổi chương trình du lịch nhưng hướng dẫn viên bảo cần phải báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định. Chị Trang đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ của hướng dẫn viên du lịch? Hướng dẫn viên du lịch có được thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 2 Điều 65 Luật Du lịch năm 2017 quy định hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ sau đây:

a) Hướng dẫn khách du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng hướng dẫn;

b) Tuân thủ, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật nơi đến du lịch, nội quy nơi đến tham quan; tôn trọng phong tục, tập quán của địa phương;

c) Thông tin cho khách du lịch về chương trình du lịch, dịch vụ và các quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch;

d) Hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch, có thái độ văn minh, tận tình và chu đáo với khách du lịch; báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu;

đ) Có trách nhiệm hỗ trợ trong việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch;

e) Tham gia khóa cập nhật kiến thức theo quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này;

g) Đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch;

h) Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và hướng dẫn viên du lịch nội địa phải mang theo giấy tờ phân công nhiệm vụ của doanh nghiệp tổ chức chương trình du lịch và chương trình du lịch bằng tiếng Việt trong khi hành nghề. Trường hợp hướng dẫn khách du lịch quốc tế thì hướng dẫn viên du lịch phải mang theo chương trình du lịch bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.

Khoản 5 Điều 9 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không hướng dẫn khách du lịch theo phân công nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng hướng dẫn;

b) Không hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch;

c) Không báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu;

d) Không có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch hoặc không là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định khi hành nghề đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế và hướng dẫn viên du lịch nội địa;

đ) Không có hợp đồng hướng dẫn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc không có văn bản phân công hướng dẫn theo chương trình du lịch theo quy định;

e) Không có phân công của tổ chức, cá nhân quản lý khu du lịch, điểm du lịch đối với hướng dẫn viên du lịch tại điểm.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Trên đây là quy định về nghĩa vụ của hướng dẫn viên du lịch. Theo đó, hướng dẫn viên phải hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch; báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu. Nếu không báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

15. Anh Quỳnh vừa tham gia chuyến du lịch tại đảo Phú Quốc trở về. Anh cho biết, cùng tham gia chương trình này, có một số khách du lịch có hành vi không tuân thủ nội dung của khu du lịch hoặc của cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, anh rất khó chịu về vấn đề này. Anh Quỳnh đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ của khách du lịch? Trường hợp vi phạm thì có bị xử phạt không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 12 Luật Du lịch năm 2017 quy định nghĩa vụ của khách du lịch như sau:

1. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ nơi đến du lịch; ứng xử văn minh, tôn trọng phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa địa phương, bảo vệ và giữ gìn tài nguyên du lịch, môi trường du lịch; không gây phương hại đến hình ảnh quốc gia, truyền thống văn hóa dân tộc của Việt Nam.

2. Thực hiện nội quy của khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch.

3. Thanh toán tiền dịch vụ theo hợp đồng, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

4. Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.

Điều 14 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định xử phạt vi phạm quy định về nghĩa vụ của khách du lịch như sau:

1. Cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện đúng thông báo nộp tiền phí, lệ phí, các khoản phải nộp khác của cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ 1 đến 3 lần số tiền phí, lệ phí, các khoản phải nộp khác theo quy định đối với hành vi trốn nộp phí, lệ phí, các khoản phải nộp khác. Mức phạt tối đa là 50.000.000 đồng.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện nội quy, quy định của khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch.

4. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi ứng xử không văn minh hoặc không tôn trọng phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa địa phương nơi đến du lịch.

5. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi gây phương hại đến hình ảnh quốc gia, truyền thống văn hóa dân tộc của Việt Nam.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp đủ số tiền phí, lệ phí, các khoản phải nộp đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Trên đây là quy định của pháp luật về nghĩa vụ của khách du lịch, trường hợp vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt như trên.

16. Ông Hoàng đến cơ sở dịch vụ lưu trú du lịch Thanh Tâm để thuê phòng nghỉ. Tại đây, ông Hoàng không thấy niêm yết công khai nội quy của cơ sở lưu trú du lịch. Ông Hoàng đề nghị cho biết cơ sở kinh doanh dịch  vụ lưu trú du lịch có nghĩa vụ gì? Việc không niêm yết công khai nội quy của cơ sở lưu trú du lịch có bị xử phạt không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 2 Điều 53 Luật Du lịch năm 2017 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch theo quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật Du lịch;

b) Niêm yết công khai giá bán hàng hóa và dịch vụ, nội quy của cơ sở lưu trú du lịch;

c) Bồi thường thiệt hại cho khách du lịch theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú du lịch khi có sự thay đổi về tên cơ sở, quy mô, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật;

đ) Chỉ được sử dụng từ “sao” hoặc hình ảnh ngôi sao để quảng cáo về hạng cơ sở lưu trú du lịch sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch;

e) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán theo quy định của pháp luật.

Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không niêm yết công khai nội quy của cơ sở lưu trú du lịch theo quy định.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Như vâỵ, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có các nghĩa vụ như trên, trong đó có nghĩa vụ niêm yết công khai nội quy của cơ sở lưu trú du lịch. Trường hợp không niêm yết công khai nội quy của cơ sở lưu trú du lịch theo quy định thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối.

17. Chị Sang có ngôi nhà 5 tầng không sử dụng, vị trí thuận lợi, ngay trung tâm thành phố. Chị dự định cải tạo, sửa chữa lại để đưa vào kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch. Chị đề nghị cho biết, việc này có phải đăng ký kinh doanh và các vấn đề liên quan đến phòng cháy, chữa cháy, an ninh trật tự không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 49 Luật Du lịch năm 2017 quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch như sau:

1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch bao gồm:

a) Có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;

b) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;

c) Đáp ứng điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ phục vụ khách du lịch.

2. Chính phủ quy định chi tiết điểm c khoản 1 Điều này.

Khoản 7, 9 và 10 Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định:

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 49 của Luật Du lịch.

- Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định nêu trên.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ quy định trên, để kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch phải đảm bảo các điều kiện theo quy định, trong đó phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật. Trường hợp vi phạm hai điều kiện này thì bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng; áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

18. Bà Tình dự định kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch với loại hình khách sạn. Bà Tình đề nghị cho biết, điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với khách sạn là gì? Trường hợp đi vào hoạt động, các vấn đề liên quan đến vệ sinh giường, khăn, nhà vệ sinh,... bị xử lý như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 22 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 142/2018/NĐ-CP  ngày 09/10/2018 của Chính phủ) quy định điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với khách sạn như sau:

1. Có tối thiểu 10 buồng ngủ; có quầy lễ tân, phòng vệ sinh chung.

2. Có nơi để xe cho khách đối với khách sạn nghỉ dưỡng và khách sạn bên đường.

3. Có bếp, phòng ăn và dịch vụ phục vụ ăn uống đối với khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn nổi, khách sạn bên đường.

4. Có giường, đệm, chăn, gối, khăn mặt, khăn tắm; thay bọc đệm, bọc chăn, bọc gối, khăn mặt, khăn tắm khi có khách mới.

5. Có nhân viên trực 24 giờ mỗi ngày.

 Khoản 1, 4, 6 Điều 11 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thông báo về việc bổ sung, hoàn thiện đáp ứng điều kiện tối thiểu hoặc thay đổi loại hình cơ sở lưu trú du lịch theo quy định;

b) Không có giường hoặc đệm hoặc chiếu hoặc chăn hoặc gối theo quy định;

c) Không có khăn mặt hoặc khăn tắm theo quy định;

d) Không thay bọc đệm hoặc chiếu hoặc bọc chăn hoặc bọc gối khi có khách mới;

đ) Không thay khăn mặt hoặc khăn tắm khi có khách mới.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không bảo đảm nhà vệ sinh theo quy định.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 4 nêu trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Trên đây là quy định về điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với khách sạn. Trường hợp có hành vi vi phạm liên quan đến các nội dung viện dẫn ở trên thì bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tương ứng như trên nếu là cá nhân, trường hợp là tổ chức thì mức phạt gấp đôi. Ngoài ra, nếu là hành vi không bảo đảm nhà vệ sinh theo quy định thì còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng.

19. Anh Hùng và những người bạn đi du lịch trãi nghiệm và lưu tru trú tại bãi cám trại du lịch do ông Thành làm chủ cơ sở. Tại đây, anh Hùng không thấy có tủ thuộc cấp cứu ban đầu. Anh Hùng đề nghị cho biết, pháp luật  có quy định bãi cắm trại du lịch phải có tủ thuốc cấp cứu ban đầu không? Trường hợp có quy định mà không thực hiện thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 28 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 142/2018/NĐ-CP  ngày 09/10/2018 của Chính phủ)  quy định điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với bãi cắm trại du lịch

1. Có khu vực đón tiếp khách, khu vực dựng lều, trại, phòng tắm, vệ sinh chung.

2. Có tủ thuốc cấp cứu ban đầu.

3. Có nhân viên bảo vệ trực khi có khách.

 Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không có tủ thuốc cấp cứu ban đầu đối với bãi cắm trại du lịch theo quy định.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Căn cứ quy định trên, bãi cắm trại du lịch phải có tủ thuốc cấp cứu ban đầu. Trường hợp không có thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu chủ cơ sở là cá nhân và mức phạt gấp đôi nếu chủ cơ sở là tổ chức.

20. Gia đình chị Bình lưu trú tại nhà nghỉ du lịch PC trong 5 ngày. Trong thời gian lưu trú tại đây, có những ngày chị Bình không thấy có nhân viên trực đủ 24 giờ. Chị Bình đề nghị cho biết, pháp luật có quy định nhà nghỉ du lịch phải có nhân viên trực 24 giờ không? Trường hợp có quy định mà vi phạm thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 26 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 142/2018/NĐ-CP  ngày 09/10/2018 của Chính phủ) quy định điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với nhà nghỉ du lịch như sau:

1. Có khu vực đón tiếp khách và phòng ngủ; có phòng tắm, phòng vệ sinh.

2. Có giường, đệm, chăn, gối, khăn mặt, khăn tắm; thay bọc đệm, bọc chăn, bọc gối, khăn mặt, khăn tắm khi có khách mới.

3. Có nhân viên trực 24 giờ mỗi ngày.

Khoản 3, 6 Điều 11 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch quy định:

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không có tối thiểu 10 buồng ngủ đối với khách sạn hoặc không có phòng ngủ đối với biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch hoặc không có khu vực lưu trú cho khách đối với nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê hoặc không có khu vực dựng lều, trại đối với bãi cắm trại du lịch;

b) Không có quầy lễ tân đối với khách sạn hoặc khu vực tiếp khách đối với biệt thự du lịch, căn hộ du lịch hoặc khu vực đón tiếp khách đối với tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch, bãi cắm trại du lịch theo quy định;

c) Không có nơi để xe cho khách đối với khách sạn nghỉ dưỡng hoặc khách sạn bên đường theo quy định;

d) Không có bếp hoặc phòng ăn hoặc dịch vụ phục vụ ăn uống đối với khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn nổi, khách sạn bên đường, tàu thủy lưu trú du lịch; không có bếp đối với biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê theo quy định;

đ) Không có nhân viên trực 24 giờ mỗi ngày đối với khách sạn, biệt thự du lịch, nhà nghỉ du lịch; không có nhân viên bảo vệ trực khi có khách đối với bãi cắm trại du lịch theo quy định.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a và điểm d khoản 3 nêu trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định: Mức phạt tiền quy định tại các Điều 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và 18 Nghị định này là áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền quy định tại Điều 7 Nghị định này là áp dụng đối với tổ chức.

Như vậy, nhà nghỉ du lịch phải có nhân viên trực 24 giờ. Trường hợp vi phạm thì bị xử phạt như trên.

21. Anh Thành đề nghị cho biết, anh nghe nói về việc cấm sử dụng chất kích thích trong thi đấu thể thao; vậy trường hợp vận động viên sử dụng chất kích thích trong tập luyện thể thao có bị nghiêm cấm không? Trường hợp vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 2 Điều 10 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định hành vi sử dụng chất kích thích, phương pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu thể thao bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao.

Điều 6 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về sử dụng chất kích thích trong tập luyện, thi đấu thể thao như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng chất kích thích thuộc Danh mục bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi bao che, tổ chức cho vận động viên sử dụng chất kích thích thuộc Danh mục bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc hủy bỏ kết quả thi đấu thể thao, kết quả tuyển chọn vận động viên vào đội tuyển thể thao, trường năng khiếu thể thao, thành tích thi đấu thể thao đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Căn cứ quy định trên, hành vi sử dụng chất kích thích bị cấm ngay cả trong trường hợp tập luyện thể dục, thể thao. Nếu vi phạm thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

22. Chị Phương Thanh dự định tham gia luyện tập thể thao bộ môn khiêu vũ. Tuy nhiên, chị còn e ngại vì không rõ có những bài tập phù hợp không phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam không. Chị đề nghị cho biết, pháp luật có quy định về vấn đề này không và nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 10 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao, trong đó có hành vi: Lợi dụng hoạt động thể dục, thể thao để xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người. Hoạt động thể dục, thể thao trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc.

Điều 7 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về sử dụng phương pháp bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao như sau:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng các bài tập, môn thể thao hoặc các phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao mang tính chất khiêu dâm, đồi trụy, kích động bạo lực, trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng các bài tập, môn thể thao hoặc các phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe người tập luyện, thi đấu, trừ những bài tập, môn thể thao, phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao được pháp luật cho phép.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tài liệu, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này;

b) Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc tiêu hủy tài liệu hướng dẫn sử dụng phương pháp bị cấm trong tập luyện, thi đấu thể thao đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Như vậy, pháp luật quy định hoạt động thể dục, thể thao không trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc. Trường hợp có bài tập hoặc phương pháp luyện tập mang tính chất khiêu dâm, đồi trụy, kích động bạo lực, trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam thì bị xử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân và mức phạt gấp đôi vối với tổ chức.

23. Bà Phú Bình có con gái có năng khiếu về điền kinh và muốn cho con được vào trường năng khiếu thể thao. Để chắc chắn, bà khai thêm một số thành tích không có thật để con gái được trường năng khiếu tiếp nhận. Hành vi này bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 10 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao, trong đó có hành vi gian lận trong hoạt động thể thao.

Điều 8 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về cấm gian lận trong hoạt động thể thao như sau:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi gian lận về tên, tuổi, giới tính, thành tích để được tuyển chọn vào đội tuyển thể thao, trường năng khiếu thể thao hoặc tham gia thi đấu thể thao.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi bao che, dụ dỗ, ép buộc người khác gian lận trong hoạt động thể thao.

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi làm sai lệch kết quả thi đấu thể thao.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc hủy bỏ kết quả thi đấu thể thao, kết quả tuyển chọn vận động viên vào đội tuyển thể thao, trường năng khiếu thể thao, thành tích thi đấu thể thao đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Theo quy định trên, hành vi gian lận thành tích để được tuyển chọn vào trường năng khiếu thể thao bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc hủy bỏ kết quả tuyển chọn vào trường năng khiếu thể thao.

24. Ông Trần Văn Nam rất thích xem thi đấu bóng đá. Ông rất bức xúc trước tình trạng một số trận đấu có cầu thủ chơi thô bạo, cố ý gây thương tích cho người khác. Ông đề nghị cho biết, hành vi bạo lực trong hoạt động thể thao bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 10 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao, trong đó có hành vi bạo lực trong hoạt động thể thao.

Điều 9 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về cấm bạo lực trong hoạt động thể thao như sau:

1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự; đe dọa xâm phạm sức khỏe, tính mạng; phản ứng không phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa Việt Nam khi tham gia hoạt động thể thao.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi cố ý gây chấn thương, chơi thô bạo gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người khác trong tập luyện, thi đấu thể thao.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ việc tham dự giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai đối với hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự quy định tại khoản 1 Điều này.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Như vậy, hành vi bạo lực trong hoạt động thể thao là hành vi bị nghiêm cấm. Trường hợp vi phạm thì bị xử phạt như trên.

25. Bà Lan Anh có con trai là vận động thể thao thành tích cao môn bơi lội. Bà đề nghị cho biết, quyền và nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao như thế nào và trường hợp vi phạm quyền và nghĩa vụ này thì bị xử phạt không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 1 Điều 31 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định thể thao thành tích cao là hoạt động huấn luyện và thi đấu thể thao có hệ thống của huấn luyện viên, vận động viên nhằm đạt được thành tích, kỷ lục thể thao.

Điều 32 của Luật này quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao, cụ thể:

1. Vận động viên thể thao thành tích cao có các quyền sau đây:

a) Được bảo đảm trang thiết bị, phương tiện tập luyện và thi đấu thể thao;

b) Được chăm sóc và chữa trị chấn thương trong thời gian tập luyện và thi đấu thể thao;

c) Được hưởng chế độ dinh dưỡng đặc thù, tiền lương, tiền hỗ trợ tập luyện, thi đấu thể thao theo quy định của pháp luật;

d) Được thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong tập luyện và thi đấu thể thao;

đ) Được tham gia và hưởng các chế độ về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

e) Được bảo đảm việc học tập văn hóa, chính trị, chuyên môn;

g) Vận động viên đạt thành tích xuất sắc trong các giải thể thao quốc gia và quốc tế được hưởng chế độ ưu đãi về đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chăm sóc sức khỏe, tiền thưởng và các chế độ khác theo quy định của pháp luật;

h) Vận động viên không còn khả năng thi đấu thể thao được Nhà nước tạo điều kiện học nghề và giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật; được ưu tiên tuyển dụng vào làm việc tại các cơ sở thể thao;

i) Vận động viên đội tuyển quốc gia, vận động viên đội tuyển tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngành bị tai nạn trong quá trình tập luyện, thi đấu thể thao làm mất khả năng lao động hoặc chết thì vận động viên, thân nhân của họ được hưởng chế độ trợ cấp theo quy định của pháp luật.

2. Vận động viên thể thao thành tích cao có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nỗ lực tập luyện, thi đấu giành thành tích cao;

b) Thực hiện chương trình, giáo án tập luyện của huấn luyện viên;

c) Chấp hành luật thi đấu của môn thể thao và điều lệ giải thể thao;

d) Rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật; nâng cao ý chí, lòng tự hào dân tộc.

Điều 10 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về quyền, nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao như sau:

1. Vi phạm quy định về nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao:

a) Phạt cảnh cáo đối với hành vi thực hiện không đúng, không đầy đủ chương trình, giáo án tập luyện của huấn luyện viên;

b) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện chương trình, giáo án tập luyện của huấn luyện viên;

c) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành luật thi đấu của môn thể thao, điều lệ giải thi đấu thể thao.

2. Vi phạm quy định về quyền của vận động viên thể thao thành tích cao:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho vận động viên theo quy định;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không sơ cứu, cấp cứu kịp thời cho vận động viên hoặc không bảo đảm đầy đủ trang thiết bị, phương tiện, các biện pháp bảo đảm an toàn cho vận động viên khi tập luyện, thi đấu thể thao theo quy định.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Trên đây là quy định về quyền và nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao. Trường hợp có hành vi vi phạm quy định về quyền, nghĩa vụ của vận động viên thể thao thành tích cao thì bị xử phạt vi phạm hành chính như trên.

26. Con trai ông Tùng là huấn luyện viên thể thao thành tích cao. Ông đề nghị cho biết, huấn luyện viên thể thao thành tích cao có được hưởng tiền lương và chế độ dinh dưỡng đặc thù không? Trường hợp có hành vi vi phạm quy định về quyền, nghĩa vụ của huấn luyện viên thể thao thành tích cao thì bị xử phạt như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 33 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định về quyền và nghĩa vụ của huấn luyện viên thể thao thành tích cao. Trong đó, huấn luyện viên thể thao thành tích cao được hưởng tiền lương và chế độ dinh dưỡng đặc thù theo quy định của pháp luật; được bảo đảm trang thiết bị huấn luyện; được thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong huấn luyện;…

Điều 11 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về quyền, nghĩa vụ của huấn luyện viên thể thao thành tích cao như sau:

1. Vi phạm quy định về nghĩa vụ của huấn luyện viên thể thao thành tích cao:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không xây dựng kế hoạch, chương trình huấn luyện thể thao trình cơ quan sử dụng vận động viên phê duyệt hoặc không thực hiện kế hoạch, chương trình huấn luyện thể thao sau khi được cơ quan sử dụng vận động viên phê duyệt;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho vận động viên trong tập luyện, thi đấu thể thao hoặc không chấp hành luật thi đấu của môn thể thao, điều lệ giải thi đấu thể thao.

2. Vi phạm quy định về quyền của huấn luyện viên thể thao thành tích cao:

a) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi; không bảo đảm trang thiết bị huấn luyện cho huấn luyện viên;

b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong huấn luyện cho huấn luyện viên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Như vậy, huấn luyện viên thể thao thành tích cao có được hưởng tiền lương và chế độ dinh dưỡng đặc thù theo quy định của pháp luật. Trường hợp có hành vi vi phạm thì bị xử phạt như trên.

27. Ông Trần Văn Minh thường xem các giải thi đấu thể thao quốc gia và quốc tế, ông nhận thấy tại các giải thi đấu này, trọng tài phải làm việc hết sức căng thẳng. Ông đề nghị cho biết, trọng tài thể thao thành tích cao có quyền và nghĩa vụ gì? Trường hợp vi phạm quy định về nghĩa vụ của trọng tài thể thao thành tích cao thì bị phạt với mức tiền bao nhiêu?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 34 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định quyền và nghĩa vụ của trọng tài thể thao thành tích cao như sau:

1. Được bảo đảm an toàn trong quá trình làm nhiệm vụ.

2. Được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo quy định.

3. Được hưởng thù lao theo quy định của pháp luật.

4. Điều hành thi đấu theo quy định của luật thi đấu thể thao và điều lệ giải thể thao.

5. Trung thực, khách quan trong điều hành thi đấu.

Điều 12 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) xử phạt hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ của trọng tài thể thao thành tích cao như sau: Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không trung thực, khách quan trong điều hành thi đấu thể thao.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Quyền và nghĩa vụ của trọng tài thể thao thành tích cao được quy định như trên. Trường hợp có hành vi vi phạm thì bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không trung thực, khách quan trong điều hành thi đấu thể thao.

28. Bà Trần Thu Trang có con gái là vận động viên thể thao. Vừa qua, bà nghe thông tin con gái bà được xem xét để phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao nhưng không đạt. Bà đề nghị cho biết, tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao là gì và nếu có vi phạm về tiêu chuẩn này thì bị xử phạt vi phạm hành chính không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 3 Thông tư số 06/2021/TT-BVHTTDL ngày 22/7/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao quy định tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao như sau:

1. Tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn chuyên môn.

2. Tiêu chuẩn chung:

a) Là công dân Việt Nam;

b) Có tư cách đạo đức tốt;

c) Không đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã được xóa án tích trong trường hợp bị kết tội theo bản án, quyết định của tòa án;

d) Không trong thời gian thi hành kỷ luật của liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia, cơ quan quản lý vận động viên.

3. Tiêu chuẩn chuyên môn:

a) Tiêu chuẩn chuyên môn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao từng môn thể thao được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Vận động viên tham dự một trong các đại hội thể thao: Đại hội Olympic (Olympic), Đại hội thể thao châu Á (Asiad), Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEA Games), Đại hội Olympic trẻ (Olympic trẻ) được phong đẳng cấp “Vận động viên kiện tướng”.

Khoản 1, 3 Điều 13 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ)  quy định:

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phong đẳng cấp vận động viên không bảo đảm tiêu chuẩn.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hủy bỏ kết quả phong đẳng cấp đối với hành vi vi phạm quy định trên.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Trên đây là quy định về tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên thể thao thành tích cao. Nếu có hành vi phong đẳng cấp vận động viên không bảo đảm tiêu chuẩn thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và buộc hủy bỏ kết quả phong đẳng cấp.

29. Vừa qua, ông Sinh nghe thông tin về việc xem xét phong đẳng cấp huấn luyện viên thể thao thành tích cao. Ông đề nghị cho biết, cơ quan nào công nhận đẳng cấp này và trường hợp có vi phạm quy định về phong đẳng cấp huấn luyện viên thể thao thành tích cao thì bị xử lý như thế nào?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 42 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định về đẳng cấp vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao thành tích cao như sau:

1. Đẳng cấp vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao nhằm đánh giá trình độ chuyên môn của vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao.

2. Liên đoàn thể thao quốc gia công nhận đẳng cấp cho vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao.

3. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tiêu chuẩn phong đẳng cấp vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao.

Khoản 2, 3 Điều 13 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi phong đẳng cấp huấn luyện viên, trọng tài không bảo đảm tiêu chuẩn.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hủy bỏ kết quả phong đẳng cấp đối với hành vi vi phạm.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Theo quy định trên, Liên đoàn thể thao quốc gia công nhận đẳng cấp cho huấn luyện viên thể thao thành tích cao. Trường hợp phong đẳng cấp huấn luyện viên không bảo đảm tiêu chuẩn thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, buộc hủy bỏ kết quả phong đẳng cấp.

30. Ông Trần Quang Anh phụ trách tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng quy mô toàn quốc và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cụm huyện tại huyện A. Ông đề nghị cho biết, việc báo cáo về tổ chức giải thi đấu này gửi đến cơ quan nào, gồm những nội dung gì và trong thời gian bao lâu? Trường hợp nội dung báo cáo không đầy đủ thì có bị xử phạt hành chính không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 7 Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL ngày 19/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng, giải thể thao quần chúng quy mô toàn quốc và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm cả Giải thi đấu thể thao quần chúng cụm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do tổ chức ở các địa phương liên kết tổ chức cho các vận động viên đến từ địa phương, đơn vị đóng trên địa bàn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL thì tổ chức đứng ra tổ chức giải quy định tại các điểm d, đ và e Khoản 1 Điều này có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương nơi tổ chức giải. Thời gian gửi báo cáo ít nhất 15 (mười lăm) ngày làm việc trước ngày khai mạc giải.

Khoản 3, 4 Điều 7 Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL quy định: Nội dung báo cáo nêu rõ mục đích, tên giải, thời gian, địa điểm, nội dung, chương trình thi đấu, nguồn tài chính tổ chức giải, điều kiện an ninh, y tế, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức giải thi đấu,

Sau 15 (mười lăm) ngày kết thúc giải tổ chức đứng ra tổ chức giải có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản kết quả của giải.

Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ)  quy định: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tổ chức giải thi đấu thể thao thiếu một trong những nội dung về tên giải, thời gian, địa điểm, chương trình thi đấu, điều kiện an ninh, trật tự, y tế, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức giải thi đấu.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Theo quy định trên, tổ chức đứng ra tổ chức giải nơi anh Quang Anh phụ trách phải báo cáo bằng văn bản về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương nơi tổ chức giải. Thời gian gửi báo cáo ít nhất 15 (mười lăm) ngày làm việc trước ngày khai mạc giải. Báo cáo gồm các nội dung như giới thiệu ở trên. Sau 15 (mười lăm) ngày kết thúc giải tổ chức đứng ra tổ chức giải có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản kết quả của giải. Trường hợp báo cáo thiếu một trong những nội dung về tên giải, thời gian, địa điểm, chương trình thi đấu, điều kiện an ninh, trật tự, y tế, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức giải thi đấu thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

31. Chị Trương Thị Thu Thảo phụ trách giải thi đấu thể thao quần chúng cấp huyện do tổ chức K đăng cai tổ chức. Chị cho biết, trước khi khai mạc 10 ngày, tổ chức K đã có báo cáo bằng văn bản về Phòng Văn hoá và Thông tin nơi tổ chức. Tuy nhiên, cơ quan chức năng vẫn lập biên bản về hành vi không báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về kết quả giải thi đấu. Chị Thảo đề nghị cho biết, việc báo cáo này được quy định như thế nào và hành vi này bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Khoản 1, 2 Điều 8 Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL ngày 19/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng quy định tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) và giải thi đấu thể thao quần chúng cơ sở như sau:

1. Giải thi đấu thể thao quần chúng cấp huyện bao gồm:

a) Giải thi đấu thể thao quần chúng cấp huyện được tổ chức cho các vận động viên đến từ các địa phương, đơn vị đóng trên địa bàn huyện;

b) Giải thi đấu thể thao quần chúng cụm các xã, phường, thị trấn do tổ chức ở các địa phương liên kết tổ chức cho các vận động viên đến từ các địa phương, đơn vị đóng trên địa bàn;

2. Tổ chức đứng ra tổ chức giải thi đấu thể thao quy định tại Khoản 1 Điều này có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản về Phòng Văn hóa và Thông tin nơi tổ chức giải ít nhất 15 (mười lăm) ngày làm việc trước ngày khai mạc.

Nội dung báo cáo tổ chức giải nêu rõ: mục đích, tên giải, thời gian, địa điểm, nội dung, chương trình thi đấu, nguồn tài chính tổ chức giải.

Sau 10 ngày kết thúc giải, tổ chức đứng ra tổ chức giải có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản kết quả của giải về Phòng Văn hóa và Thông tin nơi tổ chức giải.

Khoản 2, điểm a khoản 4, 5 Điều 14 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thành lập Ban tổ chức giải thi đấu;

b) Không có Điều lệ giải thi đấu;

c) Không báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tổ chức, kết quả giải thi đấu.

2. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ tổ chức giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Theo quy định trên, ngoài báo cáo bằng văn bản ít nhất 15 (mười lăm) ngày làm việc trước ngày khai mạc. Sau 10 ngày kết thúc giải, tổ chức đứng ra tổ chức giải có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản kết quả của giải về Phòng Văn hóa và Thông tin nơi tổ chức giải. Trường hợp không báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về kết quả giải thi đấu thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ tổ chức giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được.

32. Anh Trần Văn Hoàng là công chức huyện K, được phân công tham mưu tổ chức giải thể thao quần chúng tại địa phương. Anh đề nghị cho biết, thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quần chúng được quy định như thế nào? Trường hợp tổ chức giải thi đấu thể thao không đúng thẩm quyền thì bị xử phạt không?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 13 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quần chúng như sau:

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức các giải thể thao quần chúng sau đây:

a) Đại hội thể thao khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

b) Đại hội thể thao khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho học sinh, sinh viên; Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc cho học sinh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

c) Đại hội thể thao khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho lực lượng vũ trang theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an.

2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quyết định tổ chức giải thi đấu từng môn thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho học sinh, sinh viên và lực lượng vũ trang.

3. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định tổ chức giải thi đấu từng môn thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật; giải thi đấu thể thao quần chúng cấp quốc gia.

4. Ủy ban nhân dân các cấp quyết định tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng của địa phương mình.

5. Cơ quan, tổ chức quyết định tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

6. Cơ quan, tổ chức quyết định tổ chức giải thi đấu thể thao quần chúng phải tuân theo quy định của Luật này và có trách nhiệm quy định nội dung, hình thức, chế độ bồi dưỡng, giải thưởng và bảo đảm kinh phí cho việc tổ chức giải thi đấu.

Khoản 3, điểm b khoản 4, 5 Điều 14 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ)  quy định:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức giải thi đấu thể thao không đúng thẩm quyền.

2. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ tổ chức giải thi đấu thể thao có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần đối với cá nhân.

Trên đây là quy định về thẩm quyền quyết định tổ chức giải thể thao quần chúng và việc xử phạt vi phạm hành chính nếu có vi phạm. Anh Trần Văn Hoàng nghiên cứu để thực hiện.

33. Chị Hoa muốn tổ chức kinh doanh hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện. Chị đề nghị cho biết, việc kinh doanh này có phải đăng ký thành lập doanh nghiệp không và trường hợp có quy định mà không đăng ký thì bị phạt bao nhiêu tiền?

Trả lời (mang tính chất tham khảo):

Điều 56 Luật Thể dục, thể thao năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) quy định hộ kinh doanh và các tổ chức khác kinh doanh hoạt động thể thao như sau:

1. Hộ kinh doanh và các tổ chức khác kinh doanh hoạt động thể thao thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về doanh nghiệp.

2. Hộ kinh doanh và các tổ chức khác muốn kinh doanh hoạt động thể thao mạo hiểm và hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện phải đăng ký thành lập doanh nghiệp và đáp ứng đủ các điều kiện về kinh doanh hoạt động thể thao mạo hiểm và hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện theo quy định của Chính phủ.

Điều 15 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ)  quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao mạo hiểm, hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện như sau:

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh hoạt động thể thao mạo hiểm, kinh doanh hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện mà không đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 46/2019/NĐ-CP ngày 27/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ) quy định: Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, các Điều 13,14,16, khoản 2 Điều 17 và khoản 2 Điều 20 của Nghị định này